Press "Enter" to skip to content

LỊCH SỬ DÂN TỘC KHMER CHƯƠNG 2 – NGUỒN GỐC DÂN TỘC KHMER

– Khmer có nguồn gốc từ đâu?

– Dân tộc Khmer đã xuất hiện đầu tiên nhất trên lãnh thổ hiện hay hay từ đâu đến?

Nhiều người nhận thấy rằng dân tộc Chăm xuất thân từ đảo Java, nằm ở phía nam lãnh thổ Vương quốc Khmer, và họ cũng cho rằng Khmer cũng xuất thân từ phía Nam như dân tộc này. Người ta cũng từng đặt Khmer trong nhóm Java, Indonesia, Malaysia và Melanesia. Thực ra các dân tộc này có dùng một nhóm austronesien, hay còn gọi là nhóm Nam Đảo.

Thế nhưng Khmer lại khác. Khmer thuộc nhóm Mon – Khmer (hay Khmer – Mon). Dân tộc Khmer và dân tộc Mon cùng có chung một nguồn gốc. Dân tộc Khmer và Mon cùng có chung nguồn gốc ở Ấn Độ với tổ tiên là người Munda.

Trong cuốn «Histoire de L’Inde» (Lịch sử Ấn Độ), ông Alain Daniélou có viết rằng : «Dân tộc Khmer nằm trong nhóm Munda», và việc xây dựng được đền Angkor Wat cho thấy xã hội của người Khmer có rất nhiều đặc điểm phát triển rất cao và hết sức đặc biệt.

Ông William Smith cũng viết rằng: « Dân tộc Khmer và dân tộc Munda có cùng một ngôn ngữ, có hình dáng và đặc điểm văn hóa giống nhau và khác xa các nhóm Tamoul, Arya, và Mongol»

Dân tộc Munda là dân tộc có mặt đầu tiên nhất ở Ấn Độ. Người ta tìm thấy rằng dân tộc này đã tồn tại trên lãnh thổ Ấn Độ ngày nay sớm nhất là 30,000 năm trước Tây Lịch. Dân tộc Munda từng được gọi là người Nishada (hay niṣāda), người Ấn ngày nay thừa nhận họ là Adivasi, tức dân tộc Gốc hay người bản địa. Mấy ngàn năm trước Tây lịch, dân tộc này đã có nền kinh tế, văn hóa phát triển rất cao. Dân tộc này không có tôn giáo, cũng không tin vào bất kỳ đấng thần linh nào. Họ theo chế độ mẫu hệ và tôn thờ cha mẹ, thờ mẹ đất, mẹ nước, và tin vào « Néak Ta ». Tất cả các đặc điểm này được người Khmer thừa hưởng đến tận ngày nay.

Trong tiếng Khmer bình dân, người ta gọi tất cả các sắc dân từ Ấn Độ là «Khlaing» (Khlâng). Sở dĩ người Khmer có thói quen gọi người Ấn như vậy là do dân tộc đầu tiên ở Ấn Độ đến lãnh thổ của người Khmer để làm ăn buôn bán đến từ Vương quốc Kalinga (कलिङ्ग) tương đương với bang Orissa của Ấn Độ ngày nay.

Người Khmer tiếp xúc với 2 nhóm người Khlaing trên lãnh thổ của mình là Khlaing Trắng và Khlaing Đen. 

Rất có thể người Khlaing Đen là những người gốc Châu Phi đã đến Ấn Độ khoảng 10,000 năm trước Tây Lịch. Người Châu Âu gọi nhóm người này là Dravidian. Tuy nhiên, tộc dan tự gọi bản thân của dân tộc này là người Tamil. 

Người Khlaing Trắng xuất hiện ở Ấn Độ vào khoản 2,800 trước Tây lịch. Dân tộc này có nguồn gốc từ Trung Đông, ở phía Tây của Mông Cổ ngày nay. Dân tộc này tự gọi mình là Arya, tức dân tộc Thượng Đẳng.

Ấn Độ không chỉ có 3 tộc người Munda, Tamil và Arya mà hầu như tất cả các chủng tộc trên thế giới đều đến Ấn Độ, trong đó có người Perse đến hồi năm 520 trước Tây lịch, người Hy Lạp của Alexander Đại đế cũng đánh chiếm vùng đất này vào năm 362 trước Tây Lịch, rồi đến năm 206 trước Tây lịch, người Siry, và người Saka vào năm 18 Tây lịch, tiếp theo đó là làn sóng di cư của các dân tộc Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Mông Cổ, … và cuối cùng là các dân tộc Châu Âu như: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, và cả Pháp.

Các dân tộc này đến Ấn Độ không phải bằng phương pháp hòa bình và bằng con đường chiến tranh hết sức man rợ ác liệt. Các dân tộc đến sau man rợ hơn và đánh bật dân tộc đã đến trước.

Thế nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì dân tộc đến sau và dân tộc đến trước cũng sống hòa lẫn vào nhau và tạo nên một nền văn hóa mới, tiên tiến và tốt đẹp. Tuy nhiên, có một dân tộc không chấp nhận sống chung với các ngoại tộc cũng như không muốn sống chung với sự hiện diện của dị chủng, đó là dân tộc Munda, tổ tiên của người Khmer.

Vì không chịu sự cai trị của dân tộc khác, người Munda rời bỏ quên hương sống ở những khu vực khác như rừng sâu, khu vực núi hẻo lánh, đến tận biên giới phía Tây như vùng Assam, hay vùng Vịnh Kumari (Phương Tây gọi là vùng vịnh Comorin).

Tuy sống ở đâu đi chăng nữa thì dân tộc Munda này, thậm chí cho đến ngày nay, vẫn giữ những truyền thống, văn hóa cổ truyền của mình mà có rất ít sự thay đổi.

Sau khi Ấn Độ giành độc lập, giai cấp lãnh đạo sợ rằng những người Munda và các dân tộc bản địa (hay dân tộc Adivasi) khác đòi lại đất đai và quyền lợi của mình, người ta không gọi người Adivasi (người gốc) nữa mà gọi họ là những Vannavasi (वऩवासी), có nghĩa là «Dân tộc trong rừng». 

Trở lại dân tộc Munda, dân tộc này này không chỉ chạy trốn vào các khu rừng hoặc vào khu vực núi non hẻo lánh để tránh các dân tộc khác mà họ còn di cư ra khỏi lãnh thổ Ấn Độ và có mặt ở hầu như tất cả mọi nơi trên thế giới.

Dân tộc Munda và các dân tộc khác ở Ấn Độ rời khỏi quốc gia này theo 3 hướng chính:

Hướng Tây: Nhóm người Munda đi đến các đảo Socotra, Madagascar, Ai Cập, và Babylon.

Hướng Nam: bằng đường này, người Munda đến đảo Sri Lanka, Nicobar, Malaysia, Indonesia, Melanesia, Australia, Đảo Pak (thuộc Papua New Guinea ngày nay), và thậm chí là đến khu vực Chili thuộc Nam Mỹ.

Hướng thứ 2 này là con đường mà các dân tộc ở Ấn Độ thường nhắm đến khi trốn chạy kẻ thù. Sau cuộc di cư của người Munda, vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, người Tamil, hay người «Khlaing Da Đen» đã chạy trốn khỏi Vương quốc Kalinga theo con đường này đến sống ở nhiều quốc gia Nam Á hiện nay.

Sau đó, người Ấn theo đạo Phật Mahāyāna (Đại thừa) và đạo Islam cũng rời khỏi Ấn Độ theo con đường này.

Indonesia và Malaysia có tên như hiện nay là do những người Anh và người Hà Lan đặt cho hồi thế kỷ thứ XVII. Trước đây, vương quốc Malaysia phần lớn là người Khlaing và họ quản lý vùng đất này khoảng 1,000 năm. Đảo Nicobar, tuy thuộc Ấn Độ nhưng lại có vị trí gần với Malaysia hơn. Đảo Java, trước đây là Vương quốc Langkasuka và Đảo Sri Lanka trước kia là Vương quốc Dvipa (Quốc Đảo).

Con đường thứ Ba: Đây là đường bộ, theo vịnh Bengal. Người Munda đi dọc theo bờ biển và dọc theo các sông lớn, đến tận cùng của dòng sông Mekong, đến biển Nam Trung Hoa. Dọc con đường này, người Munda lập nên nhiều vương quốc khác nhau, có những vương quốc còn tồn tại đến tận ngày nay, như Vương quốc Khali ở khu vực Assam, Vương quốc Nagapura của người Naga, Vương quốc Mon ở Burma (Miến Điện) và Vương quốc Khmer ở trên lãnh thổ Kampuchea hiện đại.

Có người cho rằng, ban đầu một tộc người di từ từ núi Tây Tạng xuống phía Nam là Ấn Độ ngày nay rồi hình thành dân tộc Munda và một nhóm khác di cư sang phía Đông và hình thành hai dân tộc Khmer và Mon. Giả thuyết này hoàn toàn không đúng.

Dân tộc Munda bắt đầu rời khỏi Ấn Độ vào khoảng 10,000 năm trước Tây lịch sau khi bị người Tamil xâm chiếm đất đai. Nhóm người Munda thành lập được vương quốc Khmer và tự đặt lên cho mình là người Khmer có mặt tại lãnh thổ hiện tại từ khoảng năm 6,000 trước Tây lịch, nếu tính đến ngày nay, người Khmer đã làm chủ vùng đất mà ngày nay là vương quốc Kampuchea và Kampuchea Krom (người Việt quen gọi là miền Nam Việt Nam) hơn 8 nghìn năm. 

Mặc dầu có tên mới là người Khmer nhưng tộc người này vẫn lưu giữ và tôn trọng tất cả các giá trị truyền thống, ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc Munda, là dân tộc tổ tiên của mình.

Người Khmer lưu giữ 3 tín ngưỡng lớn của tổ tiên là:  

– Thờ kính mẹ cha, gọi mẹ là «me» và cha là «ba». Cũng trong nghĩa này «me» có vị trí cao hơn, và lớn hơn «ba». Về chính trị, người Khmer theo chế độ mẫu hệ và người đứng đầu nhà nước luôn là nữ.

– Thờ kính đất và nước, với hình tượng Nàng Konghing và Cá Sấu là biểu tượng mà người ta vẫn thường gọi là Neang Kong-hing hay còn gọi là Preah Thorni (Dharani) tức «Mẹ Đất»

– Thờ kính Neak Ta, người Khmer cho rằng linh hồn người đã khuất sống trong các cây cổ thụ hoặc trong các khu rừng, núi.

Người Khmer bảo lưu được tất cả các đặc điểm trên cho đến năm 50 Tây lịch. 

Khoảng 6000 năm trước Tây lịch, người Munda rời Ấn Độ trốn chạy người Khaing Đen (Tamil), tạo thành dân tộc Khmer. Đến khoảng năm 50 trước Tây Lịch, người Khlaing Trắng (tức là Arya) lại theo con đường của người Munda xưa, dư cư đến lãnh thổ của người Khmer. 

Nhóm người Arya này do một Bà La Môn tên Kaundinyaa dẫn đầu, người Khmer gọi là Kaundinya. Lại có ý kiến cho rằng Bà La Môn xuất thân từ Malaysia, khi đó là lãnh thổ của người Ấn Độ. 

Tuy nhiên, dù có xuất thân từ đâu đi chăng nữa thì sau cuộc thủy chiến ác liệt giữa đội quân người Arya và hậu duệ của người Munda, Bà La Môn Kaundinya đã giành được chiến thắng và trở thành Quốc vương của Đế quốc Khmer.

Truyền thuyết kể rằng nữ vương Khmer tên Liu Yi (Theo cách ghi của sử Trung Quốc) khi thấy tàu của Bà La Môn Kaundinya thì muốn cướp lấy bèn ra lệnh cho quân tấn công đoàn quân của Bà La Môn Kaundinya. Sau đó bị thua trận và phải lấy Bà La Môn Kaundinya làm chổng rồi nhường ngôi cho chồng. 

Truyền thuyết này cốt chỉ để hạ thấp uy tín và uy quyền của nữ vương Khmer và hợp thức hóa việc xóa bỏ chế độ mẫu hệ trong xã hội người Khmer mà thôi.

Kaundinya lên ngôi vua và lấy bà Liu Yi làm hoàng hậu và sắp xếp xã hội Khmer theo cấu trúc xã hội của Ấn Độ thời bấy giờ (tức là vào năm 50 Tây lịch, sau khi người Munda mang kiến trúc xã hội của mình rời khỏi Ấn Độ khoảng 6,000 năm trước). Lấy Bà La Môn Giáo là quốc giáo. Tiếng Sanskrit là ngôn ngữ hành chính và học thuật.

Xã hội mới của người Khmer được chia thành 4 đẳng cấp theo cách chia xã hội của Bà La Môn giáo. Việc sắp xếp triều chính và quản lý xã hội được sao chép hoàn toàn từ mô hình xã hội Ấn Độ thời bấy giờ.

Mặc dầu xã hội mới của người Khmer được sắp xếp theo xã hội Bà La Môn giáo ở Ấn Độ, nhưng người Khmer vẫn gìn giữ các truyền thống của mình như tục tôn kính mẹ-cha, thần đất, nước và Néak Ta. Người Khmer cũng không bỏ ngôn ngữ, chữ viết của mình.

Người Mon, cũng là hậu duệ của người Munda như người Khmer, nhưng rời Ấn Độ đến vùng Burma (Miến Điện) ngày nay khoảng 3,000 năm trước Tây lịch, tức là sau tổ tiên của người Khmer khoản 3000 năm. 

Người Mon thành lập vương quốc của mình, đặt tên là «Suvaṇṇabammī» mà người Khmer quen gọi là « Sovanna phum». Vương quốc này có kinh đô tên Thaton, ở eo biển Martabang, phía Bắc Thái Lan ngày nay. Người Mon cũng thành lập thêm một Vương quốc nữa gần thành phố Lamphun (cũng thuộc Thái Lan ngày nay) tên là « Haribhunjaya» (ngày nay được người Thái gọi là «Hariphunchai»).

Người Mon theo Phật giáo Theravāda (Phật giáo Nguyên Thủy), được du nhập từ Sri Lanka hồi đầu Tây lịch. Người Mon cũng đã xây dựng một nền văn minh vô cùng đặc sắc ở khu vực mà ngày nay là miền trung Thái Lan gọi là nền văn mình « Dvaravati».

Năm 1057, Kinh đô Thaton bị người Burman (người Miến hiện nay) bình định, và vương quốc «Suvaṇṇabammī» của người Mon bị xóa sổ. Người Burma không thuộc nhóm Mon – Khmer và cũng không phải là hậu duệ của người Munda. Dân tộc này thuộc nhóm Tibet – Burman (Tạng – Miến) có nguồn gốc ở phía Tây núi Vân Nam (thuộc Trung Quốc ngày nay). 

Dân tộc Burman này di cư từ vùng núi Vân Nam xuống phía Nam và thành lập vương quốc Pagan vào năm 849.

Sau khi tiêu diệt dân tộc Mon, người Burman không phá hủy mà  tiếp nhận toàn bộ nền văn hóa của người Mon, biến văn hóa của người  Mon từ Phật giáo Theravāda, ngôn ngữ, chữ viết  Mon trở thành của người Burma. 

Dân tộc Karen ở Miến Điện ngày nay chính là hậu duệ của người Mon.

Vương quốc Haribhunjaya của người Mon cũng bị người Syam (Xiêm, tức người Thái) đánh tan vào năm 1281.

Trên một khía cạnh khác, theo quyển Ādhrasāstrā, một quyển sách về khoa học chính trị quan trọng của người Ấn Độ xưa được Bà La Môn Kautilya – một vị quan của vương triều Chandragupta Maurya (Vương triều Khổng Tước) viết hồi cuối thế kỷ thứ III Tây lịch, và được ông Daniélou nghiên cứu lại rằng, quân đội của Ấn Độ thời bấy giờ có 4 nhóm:

1. Quân chính quy của đẳng cấp vương quyền.

2. Quân được chọn để phục vụ trong khoản thời gian ngắn.

3. Quân được các nước chư hầu gửi đến.

4. Quân thiện chiến được chọn từ các nhóm người sống trong rừng.

Lính có được chọn từ các nhóm sống trong rừng có nhiệm vụ cản bước tiến của quân địch vì lực lượng này rất thiện chiến và quả cảm.

Trong truyện Rāmāyāna, người ta nhắc đến đội quân của vua khỉ Hanuman thực chất chính là hình ảnh của những người lính có xuất thân từ trong rừng. Trong truyện này, nàng Sitā, vợ của Rāma bị Ravana bắt cóc mang đi đảo Laṅkā. Rama, nghĩa là «tốt đẹp», chính là vua của thành Ayudhyā thuộc vương quốc Kaushalya, nay là bang Bihara. Nhờ sự giúp đỡ của đội quân khỉ của Hanumān mà Rama đánh hạ Ravana và giải cứu Nàng Sita ra khỏi đảo Lanka.

Về vấn đề này, ông Alain Daniélou cho rằng, đội quân của Hanuman không phải là đội quân khỉ thật sự. Người ta dùng hình ảnh khỉ để mô tả đội quân có xuất thân từ rừng núi, đúng như mô tả trong sách Ādhrasāstrā vậy.

Đội quân xuất thân từ trong rừng này chính là những người Vannavasi hay còn gọi là người Munda – tổ tiên của người Khmer.

Như vậy, xét về nguồn gốc người Khmer, chúng ta có 2 nguồn tư liệu chính:

Nguồn tư liệu lịch sử: Khmer có nguồn gốc từ dân tộc Munda, chủng tộc có mặt đầu tiên trên bán đảo Ấn Độ.

Nguồn truyền thuyết: Khmer chính là con cháu trực tiếp của vua Hanuman, là một chiến binh anh dũng, chưa hề chiến bại.