Press "Enter" to skip to content

LỊCH SỬ DÂN TỘC KHMER | CHƯƠNG 1 – KHMER

Ai là Khmer?

Tại sao lại gọi là Khmer?

Từ « Khmer » xuất hiện từ rất lâu. Khmer là từ để gọi tên một dân tộc.

Dân tộc này có nguồn gốc từ dân tộc Munda (मुण्ड – Muṇḍa). Lãnh thổ nguyên thuỷ của dân tộc Munda ở Ấn Độ, nay thuộc khu vực Bắc Đông Ấn và một phần Bangladesh. Dân tộc Muṇḍa có truyền thống tôn trọng cha mẹ. Về chính trị, dân tộc Munda theo chế độ mẫu hệ, tức là thủ lĩnh của dân tộc này là đều là nữ, và người ta tôn sùng người này là mẹ của đất nước và là mẹ của toàn dân.

Người Khmer, là hậu duệ của dân tộc Munda ở Đông Nam Á cũng thừa hưởng văn hoá mẫu hệ. Trong tiếng Khmer cổ, »mẹ» được gọi là là « me » (mê)​, chứ không gọi là « mae » như hiện nay. Thế nên người Khmer gọi «phụ mẫu» là « me ba » tức là « mẹ cha ». Dưới chế độ mẫu hệ, giai cấp cầm quyền làm mọi thứ để người dân tin rằng « me » là lớn nhất, mọi người phải kính trọng « me », mọi người phải tuân theo huấn thị của « me ».

Để mọi người không quên đức tính này, người ta tự đặt tên cho dân tộc mình là « Kme » sau này đổi lại là « khmaer » (Khmer).

Khmer có nghĩa là người kính trọng mẹ.

Từ « Khmer » có « kh » + « me » + « r ».

Theo ngữ âm học Khmer, âm « k’ » được dùng để chỉ người có đẳng cấp thấp hơn. Ví dụ, nếu người ta có con gái tên « Vanney », bình thường ông bà, cha mẹ sẽ gọi đứa con đó là « Ah K’ney » hàm ý người này có đẳng cấp thấp hơn mình. Tuy nhiên, « Ah Khney » này không có hàm ý xem thường hay xúc phạm, mà ngược lại, nó bày tỏ sự thân thiện, gần gụi của người trên dành cho người dưới.

Mãi cho đến tận mới đây, từ « Kme » được đổi lại là « khmaer » (Khmer). Hiện nay, ở một số nơi, người Khmer Surin và Khmer Kampuchea Krom vừa bị tách ra khỏi lãnh thổ Kampuchea hồi thế kỷ xix, xx vẫn gọi tộc danh mình là người « Kme ».

Đối với người nước ngoài, người ta ít biết đến «Khmer». Trong tiếng Anh, người ta biết đến người Khmer là người « Cambodian ». Và dân tộc sử dụng tiếng Anh là dân tộc đầu tiên ở châu u sử dụng từ « Cambodian » để gọi chúng ta. Từ này, họ dịch ra từ « Kambuja» (Kampuchéah) là tên của một tiểu quốc Khmer, nằm ở phía Đông của Thái Lan hiện nay. Vương quốc Kampuchéah được lập nên bởi một Bà La Môn tên Kampu và Kampuchéah có nghĩa là Vương quốc của những con người được sinh ra từ Kampu. Tiếng Saṅskrit « Chéah » có nghĩa là « được sinh ra từ ».
Người Pháp khi bảo hộ Đông Dương cũng không biết về từ «Khmer», và gọi vương quốc của người Khmer là Cambodge, do dịch ra từ tiếng Cambodia trong tiếng Anh. Dân tộc Khmer, họ gọi là Cambodgien, tức là thêm tiếp vị ngữ «ien» sau từ «Cambodge», một hình thức ngữ pháp phổ biến trong nhiều ngôn ngữ Châu u, thêm tiếp vị ngữ sau tên quốc gia để gọi dân tộc của quốc gia đó (Ví dụ: Tiếng Anh: China – Chinese, Japan – Japanese, Russia – Russian. Tiếng Pháp: Vietnam – Vietnamien, Canada – Canadien, Inde – Indien)

Kampuchéah trong tiếng Saṅskrit được đọc theo giọng Khmer là Kampuchea.

Một số trường phái chủ trương sử dụng « Kampuchea » để gọi thay cho « Khmer », ví dụ như: « Người Kampuchea », « Tiếng Kampuchea», « Chữ Kampuchea » chứ không phải là « Người Khmer », « Tiếng Khmer», « Chữ Khmer ». Quan điểm này hoàn toàn không hợp lý bởi lẽ «Kampuchéah» chỉ là tên của một tiểu quốc của người Khmer. Hay nói cách khác, người Khmer có nhiều quốc gia, mà «Kampuchéah» là một quốc gia trong số đó, thế nên, không thể dùng từ «Kampuchéah» thay thế cho «Khmer» được.

Hơn nữa, theo lịch sử, Bà La Môn Kampu không phải là tổ tiên của dân tộc Khmer mà chỉ là một người thuộc dân tộc Khmer. Bà La Môm Kampu sống vào khoảng thế kỷ thứ 3 Tây lịch, còn dân tộc Khmer và tên gọi « Khmer » đã xuất hiện từ 6,000 năm trước Tây lịch.

Nếu truy xét nguồn tận thì dân tộc Khmer có nguồn gốc từ những người Munda đã di cư từ Ấn Độ ngày nay đến Đông Nam Á hồi 30,000 năm trước Tây Lịch. Nếu đánh đồng Khmer và Kampuchea tức là đã xóa bỏ hơn 30,000 năm lịch sử và văn hóa dân tộc Khmer.

Từ « Khmer Krom » (Khmer Dưới) là một tên gọi mới dùng cho bộ phận người Khmer sống ở khu vực hạ nguồn sông Mekong trong hệ quy chiếu với với Khmer Phnom Penh sống ở phía trên dòng chảy con sông này. Sau đó, từ « Khmer Krom » được dùng để gọi tất cả người Khmer sống trên phần lãnh thổ của người Khmer mà Pháp gọi là «Cochinchine française», tính từ phía bắc thành phố Prey Nokor (Sài Gòn) đến mũi Tirk Khmau (Cà Mau).

Hồi năm 1949, Quốc hội Cộng hòa Pháp đồng ý cho sáp nhập vùng đất mà trước kia là lãnh thổ của người Khmer vào lãnh thổ của Việt Nam. Kể từ đó, người Khmer Krom trở thành « Khmer Việt Nam», sau đó là người « Việt gốc Miên» (Việt Nam cộng hoà). Sau năm 1975, Chế độ Cộng sản Việt Nam quản lý vùng đất này, người Khmer Krom được gọi là « Khmer Nam Bộ ».

Ngược với « Khmer Krom », Đức Vua Sihanouk lập nên 1 từ mới là « Khmer Leur » (Khmer Trên) để gọi nhiều tộc người bản địa sống ở vùng núi tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri như Stieng, Radhe, Jrai, … Tuy nhiên, các dân tộc này cũng không vừa lòng với tên gọi « Khmer Leur » vì bản thân họ không công nhận mình là người Khmer, mặc dầu cùng thuộc nhóm Mon-Khmer và nằm dưới sự quản lý của người Khmer.

Ngoài « Khmer Krom », « Khmer Leur » , người ta còn có « Khmer Kandal » (Khmer Giữa) để chỉ người Khmer đang sống trên lãnh thổ Kampuchea hiện tại như Phnom Penh chẳng hạn. Tuy nhiên, từ này ít được người ta dùng đến. « Khmer Derm » (Khmer gốc) cũng được người ta sử dụng nhiều. Khmer Derm là bộ phận người Khmer giữ được gần như đầy đủ các đặc điểm của người Khmer cổ. Phần lớn những người này sống ở khu vực rừng núi, cách xa khu vực đông dân cư.

Từ năm 1950 đến 1960, Vua Norodom Sihanouk cũng thành lập một số tên gọi Khmer khác nữa dựa theo các yếu tố tôn giáo hay chính trị chứ không liên quan đến vấn đề dân tộc học như:

Khmer Islam

Khmer Krahom (Khmer Đỏ)

Khmer Khieu (Khmer Xanh)

« Khmer Islam » không phải dùng để gọi người Khmer theo đạo Islam. Từ này dùng để gọi bộ phận người Cham và Malay đến sinh sống trên đất Khmer để tránh sự tàn sát của người Việt khi bình định vương quốc Champa hồi năm 1693. Thực ra, Islam không phải là tôn giáo gốc của người Cham, họ tiếp nhận tôn giáo này từ người Malay.

« Khmer Krahom » (Khmer Đỏ) dùng để chỉ người Khmer theo chủ nghĩa Cộng sản. Ngôn ngữ chính trị gọi những người này là « Khmer Cộng sản ».

« Khmer Khieu » (Khmer Xanh) dùng để chỉ những người Khmer chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ngôn ngữ chính trị gọi những người này là phe cánh hữu, hay hữu khuynh, ngược với phe cộng sản là cánh tả, hay tả khuynh. « Khmer Khieu » hiện nay không còn được sử dụng và ít được nhắc đến.